Nhãn

Hiển thị các bài đăng có nhãn Lao động và Thương mại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lao động và Thương mại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018

Hiệp định FTA thế hệ mới là gì?

Thời gian gần đây, chúng ta thường nghe tới một thuật ngữ mới là “Các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới”. Vậy FTA thế hệ mới là FTA như thế nào?

Khá nhiều người bị nhầm lẫn khái niệm “mới” và “thế hệ mới”. “Thế hệ mới” thì chắc là phải là “mới” rồi, nhưng “mới” chưa chắc đã là “thế hệ mới”. Ví dụ, xe ô tô Toyota Camry mới sản xuất năm 2018 có đôi chút thay đổi về mẫu mã hay cải tiến một vài chi tiết so với Camry sản xuất năm 2015 nhưng đó chỉ là phiên bản mới (phiên bản 2018) của một Camry truyền thống chứ không phải là ô tô thế hệ mới. Còn một chiếc xe ô tô được sản xuất năm 2018 mà là loại tự điều khiển không có người lái thì đó đích thị là xe ô tô thế hệ mới.

Đối với các FTA thì tiêu chí đánh giá cũng tương tự như vậy.

Theo tôi thì FTA thế hệ mới có 4 đặc trưng cơ bản sau: thứ nhất là mức độ cam kết rộng nhất, bao gồm gần như toàn bộ hàng hóa và dịch vụ mà không có loại trừ; thứ hai là mức độ cam kết sâu nhất, cắt giảm thuế gần như về 0% hết mà không có loại trừ (tất nhiên có thể có lộ trình); thứ ba là cơ chế thực thi cực kỳ chặt chẽ; và thứ tư là nó bao gồm cả những lĩnh vực được coi là “phi truyền thống” như lao động, môi trường, doanh ghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, minh bạch hóa,..Trong 4 đặc trưng trên thì 3 đặc trưng 1,2 và 3 chỉ là việc “nâng cấp” các FTA truyền thống, còn riêng đặc trưng thứ tư thì đúng là cái mà nó làm nên sự khác biệt của một thế hệ FTA (cũng tương tự như chuyển từ thế hệ ô tô có người lái sang ô tô không có người lái vậy).

Nếu căn cứ vào những đặc trưng trên để xác định một FTA thế hệ mới thì trong số 17 FTA mà Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia (10 cái đã phê chuẩn và đang thực hiện, 4 cái đã kết thúc đàm phán đang đợi ký và phê chuẩn và 3 cái đang đàm phán) thì chỉ có 3 FTA được coi là thế hệ mới là TPP, CPTPP và FTA với EU (EVFTA). Có FTA có vẻ cũng cực kỳ “đồ sộ”, “hoành tráng” như Hiệp định RCEP (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực) gồm 16 nước (10 nước ASEAN và 6 nước đối tác) nhưng nếu căn cứ vào nội hàm của nó thì FTA này mặc dù là sẽ được “sinh ra” sau TPP và EVFTA nhưng cũng chưa được coi là FTA “thế hệ mới”, thậm chí nếu hiệp định này đạt được mức độ “tiên tiến” của FTA thế hệ cũ thì cũng đã là một tham vọng lớn rồi.

Về mặt học thuật, nếu ta đã nói “thế hệ mới” thì sẽ có người hỏi vậy thế hệ mới này là thế hệ thứ mấy và trước đó là những thế hệ nào?

Tôi thì chưa thấy ai đưa ra một định nghĩa phân định rạch ròi về các thế hệ FTA, nhưng tôi chỉ đề cập ở đây sự phát triển của FTA qua các thời kỳ.

FTA nguyên thủy ban đầu chỉ là cắt giảm thuế quan đối với hàng hóa (thương mại hàng hóa). Sau đó nâng lên là thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Rồi sau đó các FTA lại được nâng cấp lên tiếp bằng cách bổ sung thêm cấu phần bảo hộ đầu tư và sau này thì bổ sung thêm sở hữu trí tuệ. Mô hình FTA gồm 3 - 4 cấu phần như trên được coi là khá phổ biến cho tới khi xuất hiện FTA thế hệ mới như đã nói ở phần trên.

Cũng có thể có một cách định nghĩa khác đơn giản hơn, đó là những FTA nào mà cao hơn và rộng hơn hẳn WTO (tôi nhấn mạnh là hơn hẳn chứ không chỉ là hơn một chút) thì đó là FTA thế hệ mới.

Tóm lại, trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, khi chúng ta nói tới FTA thế hệ mới thì đó chính là nói tới 2 FTA là CPTPP (mà tiền thân của nó là TPP) và FTA với EU.

Nói như vậy thì chúng ta mới cảm nhận được việc Quốc hội sắp bấm nút thông qua CPTPP nó có ý nghĩa lớn như thế nào.


Mạnh Cường

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2018

Ý nghĩa của ngày Hiệp định CPTPP có hiệu lực: 30-12-2018

Có người thắc mắc là tại sao ngày Hiệp định CPTPP có hiệu lực lại là ngày 30-12-2018 mà không phải là ngày 1-1-2019 vì ngày 30-12 nghe nó cứ "lửng lơ" thế nào ấy. Sao không tính toán để nó có hiệu lực từ ngày 1-1-2019 thì có vẻ "đẹp" hơn không.

Đồng ý là theo thỏa thuận thì Hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày tính từ ngày mà nước thứ sáu thông báo việc hoàn tất thủ tục phê chuẩn với nước được phân công đăng ký lưu chiểu là New Zealand. Thế nên Australia thông báo với New Zealand vào ngày 31/10 thì cứ cộng 60 ngày thì ra 30/12/2018. Nhưng về nguyên tắc thì Australia hoàn toàn có thể thông báo với NZ chậm hơn 2 ngày, tức thông báo vào ngày 2/11 thì khi đó CPTPP sẽ có hiệu lực chính xác là vào ngày 1-1-2019.

Thực ra vấn đề ở đây không phải là chọn ngày "đẹp" theo nghĩa của con số, mà Australia (cũng như New Zealand và Ca na da trước đó) đã chọn ngày 31-10-2018 là ngày quá "đẹp"

Lý do là thế này:

Việc xóa bỏ thuế quan đối với hàng hóa trong CPTPP sẽ được thực hiện theo lộ trình từng năm, mà lộ trình này được tính theo năm của lịch, bắt đầu từ 1/1 hàng năm và kết thúc vào 31/12 hàng năm.

Thế nên bằng việc có hiệu lực vào ngày 30/12/2018, Hiệp định CPTPP đã chính thức thực hiện gói giảm thuế đầu tiên vào năm 2018 và gói giảm thuế này sẽ được thực hiện trong đúng một ngày, đó là ngày 31/12/2018.

Ngay ngày tiếp theo, tức ngày 1/1/2019 thì Hiệp định CPTPP sẽ bước sang năm thứ hai và từ ngày 1/1/2019 gói giảm thuế thứ hai chính thức có hiệu lực.

Như vậy là nếu Australia thông báo với New Zealand muôn hơn chỉ 2 ngày thôi thì lộ trình cắt giảm thuế của toàn bộ CPTPP sẽ bị chậm hơn 1 năm.

Với ý nghĩa như vậy thì mới thấy là ngày Australia thông báo với New Zealnd vừa qua là ngày "quá đẹp" xét từ góc độ thúc đẩy tự do thương mại.

Nhân đây thì nói rõ thêm chuyện có liên quan: không phải nội dung nào cũng áp dụng cách tính năm là theo năm của lịch, mà có những nội dung cam kết lại được tính theo năm chính xác đến ngày. Ví dụ: ngày có hiệu lực đối với nước A là ngày 15/11/2018 thì phải đến 15/11/2019 thì mới được tính là hết năm thứ nhất. Trong trường hợp đó, lời văn của Hiệp định sẽ dùng là "kê từ ngày kỷ niệm tròn năm ngày có HĐ có hiệu lực lần thứ nhất đến ngày kỷ niệm tròn năm lần thứ hai..." (after the first anniversary....).

Nôm na cách tính năm cắt gảim thuế tương tự như cách tính tuổi để trẻ đi học. Còn cách tính năm để áp dụng cho một số cam kết cụ thể thì tính theo năm để mừng sinh nhật nếu trong cam kết nói rõ cách tính như vậy. Nói vậy cho dễ hiểu.

Đôi lời phục vụ bạn nào quan tâm.

Chúc các bạn một ngày vui và cũng nhau đón chờ ngày Quốc hội bấm nút phê chuẩn CPTP


Mạnh Cường

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2016

Bao giờ Hiệp định TPP có hiệu lực?

Cách đây đúng 1 năm, ngày 5/10/2015, tại thành phố Atlanta, Hoa Kỳ, 12 quốc gia đã tuyên bố kết thúc đàm phán thành công Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt là TPP, sau một chặng đường kéo dài hơn 5 năm với khoảng trên 25 phiên đàm phán đa phương và hội nghị bộ trưởng, cùng với vài chục cuộc đàm phán và gặp gỡ cấp cao song phương con thoi giữa các nước. Sau đó đúng 3 tháng, vào ngày 4/2/2016 tại New Zealand, bản Hiệp định đã được 12 nước chính thức ký.

Câu hỏi mà nhiều người hiện nay quan tâm là vậy thì bao giờ TPP sẽ có hiệu lực?

Xin nói ngay là sẽ không có một câu trả lời ngắn, kiểu như là đến ngày- tháng-năm nào đó thì TPP sẽ có hiệu lực, mà câu trả lời sẽ là các điều kiện để TPP có hiệu lực là gì và khi nào hội tụ đủ các điều kiện đó thì TPP sẽ có hiệu lực

Theo điều 30.5, Chương 30 của TPP thì thời điểm có hiệu lực của TPP có thể xảy ra theo 1 trong 3 kịch bản sau:

Kịch bản 1: TPP có hiệu lực trước ngày 4/2/2018 (tức tính đến thời điểm 2 năm sau ngày ký). Theo kịch bản này thì nếu Quốc hội của cả 12 nước tham gia ký kết TPP đều phê chuẩn Hiệp định trước ngày 4/2/2018 thì tính từ ngày mà nước thứ 12 thông báo cho New Zealand  (là nước được phân công đóng vai trò lưu chiểu Hiệp định) về việc nước đó đã hoàn thành thủ tục pháp lý phê chuẩn trong nước thì lấy mốc là ngày thông báo đó cộng với 60 ngày thì sẽ ra ngày TPP có hiệu lực. Ví dụ: Quốc hội 11 nước đã phê chuẩn TPP, chỉ còn Chi lê chưa phê chuẩn. Đến ngày 10/7/2017 Chi lê thông báo cho New Zealand rằng Quốc hội Chi lê đã phê chuẩn xong TPP thì ta sẽ cộng thêm 60 ngày, tức đến ngày 10/9/2017 thì TPP sẽ có hiệu lực.

Kịch bản 2: Nếu đến trước ngày 4/2/2018 mà kịch bản 1 không xảy ra, tức vẫn chưa đủ 12 nước hoàn thành thủ tục phê chuẩn trong nước thì đến ngày đó (tức 4/2/2018) chỉ cần có ít nhất 6 nước TPP mà GDP cộng gộp của  những nước này chiếm ít nhất 85% GDP của toàn bộ khối 12 nước (tính theo số liệu công bố của IMF năm 2013) thì Hiệp định cũng sẽ có hiệu lực đối với những nước này. Thời điểm có hiệu lực cũng theo công thức cộng thêm 60 ngày, tức đến ngày 4/4/2018 sẽ chính thức có hiệu lực đối với  các quốc gia đã phê chuẩn.

Kịch bản 3: Nếu đến 4/2/2018 mà điều kiện ở kịch bản 2 vẫn chưa xảy ra thì TPP sẽ bị “treo” cho đến khi điều kiện đó xảy ra ở một thời điểm nào đó sau ngày 4/2/2018. Ví dụ: đến sau ngày 4/2/2018 đã có 6 nước phê chuẩn TPP, nhưng GDP của 6 nước ngày cộng lại vẫn chưa đạt được 85% GDP của toàn khối 12 nước; đến ngày 20/9/2019 thì thêm một nước thông báo cho New Zealand rằng Quốc hội nước đó đã phê chuẩn TPP và khi đó nếu tính thêm cả GDP của nước đó thì GDP của những nước phê chuẩn đã vượt qua mốc 85% GDP của toàn khối thì khi đó TPP sẽ có hiệu lực đối với những nước đã phê chuẩn sau 60 ngày kể từ ngày nước cuối cùng thông báo, tức vào ngày 20/11/2019. Ở thời điểm đó thì TPP chưa có hiệu lực đối với những nước chưa phê chuẩn.

Với kịch bản 1 thì khi có hiệu lực thì sẽ là TPP-12, còn nếu xảy ra kịch bản 2 hay 3 thì có thể sẽ chỉ có TPP-6, hay TPP-7,…(tức khi đó mới chỉ có 6 hay 7 nước tham gia)

Trên đây là sự diễn giải Điều 30.5 của Hiệp định TPP. Tuy nhiên, nếu chỉ đọc lời văn của điều này trong Hiệp định thì vẫn chưa rõ hết sư chặt chẽ của Hiệp định, mà cần hiểu thêm năm điểm sau:

Điều thứ nhất mọi người nên biết là về công thức “6 nước và 85% GDP” trong thực tế là như thế nào. Trong trường hợp xảy ra Phương án 2 và Phương án 3 thì hết sức lưu ý đến điều kiện là những nước phê chuẩn đó phải có GDP cộng gộp bằng ít nhất 85% GDP của toàn bộ 12 quốc gia TPP. Cần biết rằng tính theo số liệu 2013 của IMF thì GDP của Hoa kỳ chiếm trên 61% và GDP của Nhật  chiếm khoảng 17% GDP của toàn khối 12 nước TPP. Vậy nên, nếu Hoa kỳ không phê chuẩn thì dù 11 nước còn lại, kể cả Nhật bản, có phê chuẩn thì tổng GDP cộng lại của 11 nước này (trừ Hoa kỳ) cũng chỉ chiếm 39% của toàn khối TPP, thấp hơn rất nhiều tỷ lệ tối thiểu 85% theo quy định của Hiệp định nên TPP vẫn không có hiệu lực. Tương tự, nếu Nhật bản không phê chuẩn thì dù 11 nước còn lại, bao gồm cả Hoa Kỳ có phê chuẩn  thì tổng GDP cộng lại của 11 nước này (trừ Nhật) cũng mới chỉ đủ 83% GDP của toàn khối 12 nước. Vậy nên có thể diễn giải ra rõ hơn là nếu xảy ra Kịch bản 2 và Kịch bản 3 thì sẽ là kịch bản khi mà Hoa kỳ VÀ Nhật bản VÀ ít nhất 4 nước khác phê chuẩn. 

Ngoài ra còn một kịch bản có thể chỉ tồn tại trên lý thuyết mà khó có thể xảy ra trong thực tế, đó là nếu cả 3 nước Canada, Úc và Mehico (đứng thứ 3, thứ 4 và thứ 5 về độ lớn GDP trong số 12 nước) cùng rủ nhau không phê chuẩn thì TPP cũng sẽ không thể có hiệu lực do tổng GDP của 3 nước này cộng lại bằng 16,5% tổng GDP của toàn khối. Như vậy, nếu Hoa kỳ cùng Nhật bản và 7 nước kia phê chuẩn mà 3 nước này “rủ nhau” không phê chuẩn thì TPP sẽ không có hiệu lực. Tất nhiên, như trên đã nói, khả năng này chỉ tồn tại trên lý thuyết (để cho có vẻ là TPP có tính đến quyền của tất cả các nước) chứ khó có khả năng xảy ra trong thực tế. Bởi vậy, người ta hầu như không nói đến khả năng này.

Điều thứ hai mọi người nên biết là trong trường hợp xảy ra Kịch bản 2 và Kịch bản 3, tức có một nhóm các nước phê chuẩn trước và TPP sẽ chỉ có hiệu lực đối với nhóm những nước này. Khi đó các nước TPP phê chuẩn sau sẽ nghiễm nhiên (bị) trở thành “công dân hạng hai” tức là nước đó phải “xin” các nước đã phê chuẩn trước cho gia nhập TPP – tức gia nhập cái Hiệp định mà bản thân nước đó đã tham gia đàm phán và ký kết ngay từ đầu. (Đây phải chăng sẽ là một cái “giá” của việc chậm chân trong phê chuẩn. Nó tạo sức ép để các nước không nên lừng khừng trong việc phê chuẩn nếu đã quyết là tham gia). Theo quy định này thì các nước phê chuẩn trước sẽ xem xét đơn “xin” gia nhập TPP của nước phê chuẩn sau trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được đơn “xin gia nhập” này. Sau khi các nước này OK thì TPP sẽ có hiệu lực đối với nước phê chuẩn sau sau 30 ngày kể từ ngày nhận được trả lời “OK” của các nước phê chuẩn trước.

Điều thứ ba mọi người cần biết, đó là riêng đối với Hoa kỳ thì kể cả khi Quốc hội Hoa kỳ đã phê chuẩn và Quốc hội các nước đối tác đã phê chuẩn thì TPP vẫn chưa mặc nhiên có hiệu lực giữa Hoa Kỳ và các nước đối tác. Theo luật pháp của Hoa Kỳ thì sau khi Quốc hội Hoa kỳ phê chuẩn song thì Tổng thống Hoa kỳ phải thực hiện thêm một bước nữa gọi là bước chứng thực (certification process), nghĩa là Tổng thống Hoa Kỳ phải chứng thực là nước đối tác đã hoàn thành việc sửa đổi luật pháp quốc gia cho tương thích với cam kết của Hiệp định và đã có bộ máy, thiết chế để sẵn sang thực thi các cam kết một cách có hiệu lực và hiệu quả. Chỉ sau khi Tổng thống Hoa kỳ hoàn thành bước chứng thực này thì TPP mới có hiệu lực giữa Hoa Kỳ và từng nước đối tác mà Hoa Kỳ đã chứng thực. Với yêu cầu chứng thực này của Hoa Kỳ thì sẽ xảy ra kịch bản là tuy Quốc hội 12 nước đã phê chuẩn thì TPP không mặc nhiên có hiệu lực với cả 12 nước mà nó chỉ có hiệu lực đối với những nước mà Tổng thống Hoa kỳ (khi đó) chứng thực là luât pháp và thiết chế của nước đó đã tương thích với cam kết TPP. Nghe qua điều này có vẻ là khó chịu, nhưng nó sẽ loại trừ được tình huống "nói vậy mà không phải vậy" tức là sẽ cố gắng loại trừ được trường hợp một nước cam kết thì cam kết nhưng không thực hiện.

Điều thứ tư mọi người nên biết – điều này liên quan tới điều thứ ba bên trên – đó là để Tổng thống Hoa kỳ có thể chứng thực là Việt Nam đã sẵn sàng để tham gia TPP thì Việt Nam phải hoàn thành việc sửa đổi bố sung một số văn bản pháp luật cho tương thích với cam kết TPP và sẵn sàng cho việc thực thi, trong đó quan trọng nhất là việc sửa đổi pháp luật lao động và công đoàn. Theo bản Kế hoạch song phương Việt Nam – Hoa Kỳ về lao động (tức bản phụ lục đi kèm Hiệp định TPP) thì Việt Nam phải hoàn thành việc sửa đổi pháp luật lao động và công đoàn và thành lập xong bộ máy, thiết chế về quan hệ lao động phù hợp với cam kết TPP mà đã được cụ thể hóa trong bản Kế hoạch song phương Việt Nam – Hoa Kỳ trước khi TPP có hiệu lực đối với Việt Nam và Hoa Kỳ. Nghĩa là, chỉ khi Việt Nam hoàn thành hai việc này thì Tổng thống Hoa Kỳ mới có đủ căn cứ để chứng thực là Việt Nam đã sẵn sàng thực thi TPP. Sau bước chứng thực này thì TPP mới có hiệu lực đối với Việt Nam và Hoa kỳ.

Điều thứ năm mọi người nên hiểu, đó là sẽ không thể tồn tại phương án TPP sẽ có hiệu lực giữa Việt Nam và các nước khác, trừ Hoa Kỳ, bởi vì có người sẽ hỏi là nếu Tổng thống Hoa Kỳ không chứng thực Việt Nam đã sẵn sàng thực thi TPP thì Việt Nam “quên” Hoa Kỳ đi và “chơi” TPP với những nước còn lại thôi! Điều đó không thể xảy ra, vì như trên đã nói, nếu không có sự tham gia của Hoa Kỳ hay Nhật bản thì sẽ không có TPP. Thế nên Việt Nam có thể “chơi” với các nước khác ngoài Hoa Kỳ, nhưng đó sẽ không phải là TPP mà sẽ là một dạng thỏa thuận hay hiệp định song phương với một cái tên khác, không phải TPP.

Tóm lại, toàn bộ phần giải thích trên có thể gói gọn lại một câu: nếu Hoa Kỳ không phê chuẩn thì trên đời này sẽ không có TPP. Đây là điều giải thích tại sao Quốc hội nhiều nước TPP đã “sẵn sàng phê chuẩn” nhưng lại chưa chính thức phê chuẩn bởi họ không muốn phê chuẩn một hiệp định rồi để đấy. Cá nhân tôi nghĩ rằng nếu Hoa Kỳ phê chuẩn thì các nước khác sẽ phê chuẩn rất nhanh, thậm chí không cần phải đợi đến đầu 2018. Còn nếu Hoa Kỳ không (hoặc chưa) phê chuẩn thì mọi thứ vẫn cứ “treo” đó. Đợi và đợi!

Hiều được toàn bộ câu chuyện TPP có hiệu lực như vậy thì bây giờ mọi người mới hiểu hết ý nghĩa của việc tại sao Tổng thống Obama vẫn quyết tâm dành những ngày cuối cùng của mình trên cương vị Tổng thống Hoa Kỳ để trình TPP ra Quốc Hội Mỹ. Theo những gì mà chính quyền của Tổng thống Obama tuyên bố thì thời gian trình dự kiến diễn ra trong khoảng thời gian sau bầu cử Tổng thống (8/11/2016) và trước khi Tổng thống Obama chính thức bàn giao chức Tổng thống cho người kế nhiệm (ngày 20/1/2017). Mọi người hãy chờ xem điều kỳ diệu có xảy ra trong khoảng thời gian hơn 70 ngày này không. 

Nếu Quốc hội Hoa Kỳ không phê chuẩn TPP trong thời gian này thì có thể TPP sẽ bị “treo” vô thời hạn, thậm chí “chết” hẳn nếu như ông Trump lên làm Tổng thống như ông ta tuyên bố. Hãy chờ xem!

Phần trên là sự giải thích cả cá nhân tôi, mọi người có thể tham khảo. Đây không phải là sự diễn giải chính thức



Mạnh Cường